top of page

Cũ // Mới

Sep 14, 2024
7 min read

Updated: Sep 26, 2024

Video w/th illustration


Khi một ý thức mới xuất hiện, thôi thúc người ta tìm cách thoát khỏi những tục lệ cũ, nhận thấy bản thân không còn phù hợp với những gì mình từng quen thuộc, không còn yên phận, và trở nên bất ổn với tình trạng sống của mình…


Khi cái mới và cái cũ kháng cự lẫn nhau bởi những gì nó không thể chấp nhận được ở đối phương…


“Hiện đại” (modernity) vạch ra một khoảng cách giữa thế giới của những gì đang là, đã là, với thế giới của những gì có thể là. Nhưng hiện đại không chỉ là sự xuất hiện của cái mới, mà còn là mối quan hệ giữa cái mới ấy với những gì đã và đang tồn tại trong xã hội mà nó du nhập vào. Đó là sự thương lượng giữa cũ và mới, khi chúng chất vấn lẫn nhau để thẩm định và cấu trúc lại hệ giá trị cho xã hội - điều gì được ở lại, và điều gì cần phải biến mất. Mỗi khi xã hội trải qua một sự chuyển giao về quyền lực, bối cảnh lịch sử, văn hoá, cộng đồng người sống trong đó cũng phải hình dung lại thế giới của họ và những thực hành họ sử dụng để tương tác với thế giới đó. Bởi có điều gì đó gián đoạn, phá vỡ cách họ vẫn luôn nhìn và trải nghiệm thực tại. Câu hỏi thiết yếu cho cộng đồng đó không chỉ là làm sao để hàn gắn vết nứt giữa cũ và mới, làm sao để kết nối những góc nhìn riêng biệt, có vẻ mâu thuẫn ấy, để cấu thành một tự sự mới mà cả hai bên đều chấp nhận được; mà còn là cách mà quá trình giải hoà đó diễn ra.


Trước hết, quá trình đó bắt đầu thông qua những gì được chia sẻ cho cả hai bên: những biểu tượng, những ký ức, những ý niệm mà cả hai đều có thể truy cập. Cái mới không loại bỏ và không bao giờ có thể thay thế được sự tồn tại của cái cũ. Ngược lại, cái mới dùng cái cũ làm điểm tựa để len lỏi vào đời sống của con người. Trong Mùa ổi (2000, Đặng Nhật Minh), Hoà tìm đến căn nhà, kể cả khi có người mới vào ở căn nhà đó và thiết lập, sử dụng nó theo một cách khác, là vì ngôi nhà có sự hiện diện của cây ổi - thứ được lưu giữ và gắn kết với những trải nghiệm cá nhân. Trong Đi Tây (1970, Nhất Linh), Lãng Du luôn đặt mọi trải nghiệm ở nước ngoài trong mối tương quan với những trải nghiệm ở Việt Nam, dù là khi quan sát khung cảnh ở chợ hay khi đi tàu điện, ăn uống. Khi một cái mới xuất hiện, dù nội sinh hay ngoại nhập, chúng không thể là điều gì đó hoàn toàn xa lạ, nhưng phải gắn kết với những gì quen thuộc, để cộng đồng này có lý do mà tiếp nhận nó. Kể cả khi đó là thứ vô cùng mới mẻ, họ cũng sẽ tìm cách để gán nghĩa chúng với những gì họ đã quen thuộc, như những chiếc bàn thờ bị đem ra khỏi Mê Thảo (Mê Thảo - Thời vang bóng). Bản thân việc chụp ảnh thờ với các kỹ thuật photograph cũng như nhiều yếu tố về vật liệu, cấu trúc là mượn từ phương Tây, nhưng người dân kết nối chúng với ký ức của gia đình họ, với những người quá cố thân thuộc của họ. Vì vậy, bước đầu tiên trong quá trình thương lượng giữa cũ và mới không phải là cả hai thách thức nhau, mà ngược lại, là việc cả hai có thể chia sẻ chung những ý niệm gì đó, để cộng đồng có thể hợp lý hoá sự tồn tại mới mẻ này.


Khi cái mới đó được phép truy cập và bắt đầu cùng tồn tại với cái cũ, cuộc phán quyết giữa chúng bắt đầu, trong đó, người biện hộ là những cơ quan có thẩm quyền, còn người quyết định là quần chúng, là cộng đồng đông đảo đang trải qua khúc chuyển giao đó. Trong Mê Thảo, hai cơ quan có thẩm quyền là Master Nguyễn và người Pháp. Họ đưa ra những đề xuất: loại bỏ những đồ dùng của phương Tây, sống theo kiểu truyền thống (Nguyễn) và xây dựng đường ray tàu lửa (Pháp). Đó là những đề xuất có khả năng điều hướng cách sống và cách cả một cộng đồng trải nghiệm hiện thực, tạo ra những thực hành xã hội cụ thể. Tuy nhiên, cộng đồng này không chịu sự điều hướng đó một cách thụ động, mà trực tiếp đưa ra phán quyết đối với những con đường được đề xuất đó, bày tỏ thái độ của họ, và có những hành động để củng cố những giá trị mà mình lựa chọn. Đây là một quá trình phức tạp, từ việc thoát khỏi những ám ảnh của quá khứ, khỏi quán tính của thói quen, cưỡng lại những cái mới họ cảm thấy không phù hợp, hợp thức hoá cho những cái mới họ cảm thấy phù hợp, cũng như thích ứng những cái cũ vào môi trường mới ấy. Điều này càng phong phú hơn nếu xét trong từng nhóm nhỏ của cộng đồng đó, vì không phải nhóm nào cũng có cùng sự lựa chọn. Đây là quá trình không ngừng chọn lọc, kháng cự và chấp nhận, để đánh giá một cách tổng quát mọi thứ.


Khi hoàn tất, một hệ thống mới được thành lập và sử dụng. Hệ thống mới này không nghiêng về thái cực nào, mà cả cái mới lẫn cái cũ đều được thay đổi và nhào nặn lại để tương thích với nhau, dựa trên cái chung mà chúng chia sẻ. Khoảng cách giữa cái mới và cái cũ được hàn gắn bởi nỗ lực đi tìm điểm chung, những điểm chung được gạn lọc ra từ quá trình chọn lọc và đào thải. Vực thẳm ấy, có thể nói, được lấp đầy bởi những xác chết bị đào thải, những giá trị phải hy sinh, phải nằm xuống để lót đường nghênh đón những hiện diện mới. Trong cuộc thương lượng này có những cái giá phải trả, có những thứ không được phép đeo mang. Đó có lẽ cũng là lý do Lãng Du không gia nhập được vào xã hội Pháp, dù anh ta biết tiếng Pháp, dù anh ta đã vượt qua được biên giới về mặt địa lý. Bởi anh ta không trả giá, không có cuộc thương lượng nào giữa những người Pháp và những người Việt này. Anh ta vẫn luôn phân biệt giữa “mình” và “họ”, chứ không phải mình đang sống giữa họ, họ đang ở quanh mình. Và như vậy, cả hai không ảnh hưởng lẫn nhau, người Pháp vẫn là người Pháp và anh ta vẫn cứ là anh ta, bị trục xuất, trở về Việt Nam, vẫn giữ nguyên giá trị quan của mình. Chiếc cầu để đi từ ‘cũ’ đến ‘mới’ được xây nên bằng những giá trị thân thuộc mà chúng ta chấp nhận từ bỏ để dành chỗ đó cho một giá trị mới có thể thay thế chúng. Tuy nhiên, một lựa chọn của một đám đông không bao giờ là lựa chọn của tất cả mọi người thuộc đám đông đó. Vì vậy, trên chặng đường từ ‘cũ’ đến ‘mới’, trong quá trình hiện đại hoá, dẫu có tiếng hân hoan vui cười cho một cuộc cách mạng thắng lợi, cũng sẽ có ai đó âm thầm khóc, tiếc nuối những gì đã phải hy sinh trong cuộc đổi chác đó.


Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với những gì bị khước từ sẽ hoàn toàn biến mất. Chúng sẽ lưu lạc đâu đó, và nếu có điều kiện, sẽ trở lại với cộng đồng đó trong hình hài mới, và lại được hợp thức hoá một lần nữa. Cái mới rồi sẽ thành cái cũ, để người ta đón nhận một cái mới khác. Và cái ‘cũ’ đó vẫn có thể là cái ‘mới’ ở một không - thời gian khác. Cũ và mới chỉ có ý nghĩa khi nó gắn với 1 chủ thể tiếp nhận. Cái này cũ với ai đó, mới với ai đó. Bản thân một sự vật hiện tượng không mang phẩm chất cũ hay mới, đó là vấn đề về cách chúng ta phân loại và sắp xếp chúng vào dòng thời gian.


Vài hôm trước tôi đi xem hát bội nhân Ngày Sân khấu Việt Nam. Đó là một cái “cũ” nếu xét theo dòng thời gian của lịch sử văn hoá Việt, nhưng là cái “mới” đối với tôi, và nếu giả như nó du nhập vào một không gian văn hoá khác, nó cũng sẽ là cái mới đối với họ. Với hệ quy tắc thẩm mỹ của thời hiện đại, cách tôi nhìn vào buổi kịch không giống với cách người xưa say mê nó, và tôi có một khoảng cách nhất định trong việc hiểu và cảm thụ nó. Nhưng tôi vẫn bị lay động bởi những điệu bộ, cử chỉ, phản ứng rất thành thực với những gì chúng gợi nên, và tôi thấy thú vị khi các bạn trẻ thực hành nó. Việc hàn gắn khoảng cách giữa mới - cũ không chỉ là quá trình bắc cầu đi từ ‘cũ’ tới ‘mới’, mà còn là quá trình truy vết lại cái cũ từ vị trí mình đang đứng, và có khả năng đi lại giữa hai địa hạt này. Đó là mấu chốt, để giải hoà sự tranh chấp vẫn không ngừng diễn ra, không chỉ trong những giai đoạn rung chuyển của lịch sử, mà trong cuộc sống hàng ngày của chính chúng ta.













Comments


bottom of page