top of page

Ai nắm giữ câu chuyện của bạn?

Jan 16, 2023
14 min read

Updated: Sep 26, 2024

Who own your story?

Transcending the trauma narrative

Aminatta Forna



**Bài dịch từ một bài báo của Aminatta Forna**


[Ai nắm giữ câu chuyện của bạn?]

Xuyên qua những tự sự của chấn thương


Có người mở đầu buổi trò chuyện làm quen bằng một câu hỏi: “What's your story?” (Câu chuyện của bạn là gì?). Tôi thích cách bắt đầu một cuộc đối thoại như thế, với ai đó bạn chỉ vừa mới gặp. Nó cho phép ta trình bày bản thân theo cách ta muốn được người khác nhìn nhận nhất (khác với những gì người ngoài nhìn thấy ở ta). Tôi thích kể chuyện, bởi tự sự là cách ta xác lập căn tính của mình. Và nếu trong cuộc gặp mặt đầu tiên bạn hỏi tôi câu hỏi ấy – What’s your story?, tôi sẽ kể bạn nghe một câu chuyện đáng kinh ngạc.


Trong cuộc nội chiến tàn phá Sierra Leone vào những năm 1990, anh họ Morlai của tôi - một giáo viên - đã bị những người lính chặn lại tại trạm kiểm soát và lôi đi để hành quyết, vì họ nhầm anh với một thành viên của phe địch đang nổi loạn. Hàng ngàn người dân đã bị giết theo cách ấy: bị những người lính nóng nảy tại các trạm kiểm soát kéo đi, và sau cùng, bị xử bắn. Tuy nhiên, Morlai đã sống sót. Anh ấy được cứu bởi một trong những người lính hành quyết là học sinh cũ của anh.


Tôi gần như choáng váng bởi câu chuyện ấy. Morlai là người anh họ mà tôi yêu quý. Chúng tôi im lặng trong một khoảng lâu. Tôi bảo: “Hẳn anh đã là một giáo viên không tồi”. Và chúng tôi cười.


Tiếng cười của chúng tôi dường như không phù hợp trong hoàn cảnh trên. Người phương Tây đang dần gán ghép tất cả những trải nghiệm đau khổ vào thuật ngữ "chấn thương", đến nỗi chữ “đau khổ” (pain) và chữ “chấn thương” (trauma) có thể dùng để thay thế cho nhau. Tuy nhiên đây là người anh thân thiết của tôi, người đã trải qua một sự kiện khủng khiếp mà không phải đau khổ bởi những dư chấn từ nó – người có thể cười trên những trải nghiệm kinh hoàng của mình. Tôi không cho rằng mọi khủng hoảng đời sống cần được chuyển thành một câu chuyện mang tính trào phúng. Tôi chỉ đơn giản nghĩ về Morlai, rằng kể từ ngày đó, vào hai thập kỷ trước, anh ấy đã tiếp tục sống một cuộc đời tốt đẹp và đầy mãn nguyện.


Vậy chấn thương là gì? Trong lĩnh vực y học, nó mô tả những tác động bạo lực đến cơ thể: “Chấn thương là thuật ngữ chỉ những tổn thương về thể chất xảy ra một cách đột ngột và nghiêm trọng, cần đến sự chăm sóc kịp thời về mặt y tế”.


Chấn thương cũng được sử dụng cho mảng sức khỏe tinh thần kể từ những năm 1970. Đó là một thuật ngữ chuyên dụng mô tả sự tác động của một sự kiện mang tính bạo lực hoặc kinh hoàng đối với trạng thái tinh thần của một cá nhân. Chấn thương trong hoàn cảnh này như một vết thương không thể chữa lành. Có một người đàn ông sống ở Sierra Leone. Bởi các cuộc xâm lược của phiến quân diễn ra trong suốt thời gian chiến tranh, đến tận bây giờ, ông ta vẫn chạy đi mỗi khi nhìn thấy người lạ và trốn vào rừng cho đến khi người ấy đi khỏi. Thỉnh thoảng ông ta ở lại trong đó vài ngày. Người vợ mang thức ăn đến cho ông. Tôi từng phỏng vấn một người phụ nữ, khi nhắc đến cái chết dữ dội của chồng mình 25 năm về trước, cô ấy đã câm lặng đến độ không thể cất tiếng. Chúng tôi gọi đó là sự tổn thương (damage). Nhưng cách tâm lý phản ứng với bạo lực khó đoán hơn so với cơ thể. Tất cả mọi người đều đau, và sự đau khổ, như một vết thương, là thật. Tuy nhiên không phải người nào đau đớn cũng đồng nghĩa với họ đang trải qua chấn thương.


Tôi bắt đầu viết về chiến tranh cách đây 20 năm, khi đất nước đang trong thời gian hồi phục sau một thập kỷ nội chiến liên miên. Gia đình tôi, trong số hàng ngàn gia đình khác, đã phải chịu đựng những tổn thất nặng nề trong những năm ấy, và cả những năm trước khi bạo loạn bắt đầu bùng nổ. Cha tôi - một nhà hoạt động chính trị trong những năm 1970 - đã bị cầm tù và sát hại. Sau cái chết của ông là 25 năm độc tài và áp bức, 10 năm nội chiến, thậm chí, dịch Ebola bùng phát. Vì vậy khá dễ hiểu khi hai nhân vật chính trong những cuốn tiểu thuyết được viết sau cuốn hồi ký đầu tiên của tôi là những chuyên gia về chấn thương, và trong khoảng thời gian viết những cuốn sách ấy, tôi dành hàng trăm giờ để trò chuyện với các nạn nhân cũng như những ai đang cố gắng giúp đỡ họ.


Một trong những người tôi trò chuyện đầu tiên khi bắt đầu quá trình nghiên cứu của mình là bác sĩ tâm thần người Sierra Leonian – Edward Nahim, người điều hành cơ sở tâm thần của Freetown. Nahim cho rằng khái niệm chấn thương được sử dụng quá rộng rãi – một quan điểm khác với quan điểm đại chúng. Cụ thể, ông cho rằng các nhân viên NGO phương Tây đã quá vội vàng trong việc xác định và mô tả tình trạng của những người ở Sierra Leone là 'chấn thương'. Một lần nọ, ông nhận xét: “Hầu hết những người này sẽ ổn thôi”.


Cái nhìn của Nahim chịu ảnh hưởng từ quan điểm của nhà tâm lý học Boris Cyrulnik, người tôi có dịp đọc không lâu trước đó. Cyrulnik sống sót trong cuộc chiếm đóng Paris, nhưng cha mẹ ông đã bị giết trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Là một nhà tâm lý học, ông làm việc với những đứa trẻ đã trải qua nhiều mức độ tổn thương. Nếu quan điểm chính thống cho rằng nỗi đau (pain) đồng nghĩa với chấn thương (trauma), ông cho rằng những tổn thương tinh thần ấy có thể được chuyển hóa thành sức mạnh nội tại. Nỗi đau là có thực đối với những ai trải qua đau khổ, nhưng nó kích động sự bất tuân và ý chí bất khuất trong con người. Ông gọi đây là 'khả năng phục hồi' (resilience).


Nhiều người hiểu về những khái niệm này một cách cảm tính. Vào năm 2018, tôi kể về câu chuyện của Morlai trong một phân đoạn của PBS, bao gồm cả khoảnh khắc anh ấy cười về việc suýt bị hành quyết của mình. Sau khi tập ấy được phát sóng, tôi chờ đợi phản ứng của người xem. Thật ngạc nhiên, khán giả phản hồi tích cực ngoài mong đợi. Vài người thậm chí tìm đến tôi để chia sẻ rằng nó hữu ích ra sao. Một nhà phân tâm học trẻ gửi thư cho tôi, trong đó viết rằng: “Tôi đồng ý rằng từ ‘trauma’ đã bị lạm dụng, mà vì vậy tầm quan trọng của những chấn thương thực thụ bị suy giảm, và khả năng đối phó của mọi người khi gặp phải những trải nghiệm căng thẳng, những khủng hoảng thật sự cũng yếu đi”. Anh nhận xét - trên thực tế, những ai phải chịu những nỗi đau tột cùng nhưng tìm ra cách giải quyết, sau cùng lại là những người có khả năng thay đổi để thế giới trở nên tốt đẹp hơn.


Morlai, anh họ tôi là kiểu người như thế. Anh không chỉ thay đổi cuộc đời của chính mình, mà còn của những người xung quanh, không chỉ cuộc đời của những đứa con anh (cả bốn đứa đã đậu đại học dù gặp phải rất nhiều khó khăn), mà còn của hằng trăm đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn khác. Chúng đều được đi học tại ngôi trường của anh, được tôi tìm thấy tại một ngôi làng ở Sierra Leone và đã duy trì được 16 năm.


Vì vậy, nếu quả có rất nhiều người không bị hủy hoại hay tổn thương vĩnh viễn bởi những sự kiện khủng khiếp trong cuộc sống, tại sao niềm tin rằng đau khổ nhất thiết phải dẫn đến sang chấn tâm lý lại trở nên quá phổ biến như thế? Và tại sao nhiều người tỏ ra khó chịu nếu có ai đó đề xuất một cách nghĩ khác?


Đôi khi nó đến từ việc những người chịu tổn thương cảm thấy nỗi đau của họ không được thừa nhận một cách đầy đủ. Việc mở rộng khái niệm chấn thương, vì vậy, là một cách để chống lại sự thờ ơ. Người tổn thương ấy sẽ nói – Tôi đã chịu tổn thương, vì vậy phải có ai đó quan tâm. Cũng có vài ý kiến cho rằng việc san bằng khái niệm nỗi đau (pain) và chấn thương (trauma) sẽ giúp những kẻ bạo hành dễ dàng thoát tội, vì nó đặt trách nhiệm lên các nạn nhân, buộc họ phải tự chữa lành cho bản thân. Tuy nhiên, việc khái niệm chấn thương được chấp nhận một cách rộng rãi còn có nguyên nhân sâu xa hơn.


Triết gia người Canada Ian Hacking đưa ra khái niệm “looping”, mô tả việc một tình trạng bắt đầu tự nhân rộng ra toàn xã hội sau khi nó được công nhận. Tôi không nói về một tình trạng không được công nhận trước đây nhưng được chẩn đoán trong hiện tại. Hacking mô tả cách niềm tin của một chuyên gia hay một cá nhân tái tạo các triệu chứng và mở rộng tiêu chuẩn chẩn đoán. Nói cách khác, các chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể vô tình tạo ra thứ mà họ muốn mô tả. Nếu những diễn ngôn thông thường cho rằng đau khổ tương đương với chấn thương, khả năng cao, nỗi đau bình thường ấy sẽ được trải nghiệm như một chấn thương.


None of us can avoid pain. But we can change the way we look at our suffering.


Đây là một từ khác mà tôi thích: catastrophizing (bi kịch hóa). Như tên gọi của mình, bi kịch hóa là cách hình dung một tình huống theo hướng đau đớn và tồi tệ nhất có thể. Chúng ta sống trong nền văn hóa yêu thích tính bi kịch ấy. Báo chí mô tả cuộc sống của một người là “tàn” hoặc “kết thúc” (ruined/ over). Lối suy nghĩ này có thể tồn tại, in sâu vào ký ức cá nhân và trở thành một phần tính cách. Quan điểm của bạn về những gì đã xảy ra sẽ dần dần thay thế những gì đã thực sự xảy ra trên thực tế, và bạn phản ứng lại với nó. “Looping”.


Chúng ta dường như bị mắc kẹt trong vòng lặp của khái niệm chấn thương. Vòng lặp ấy ngày càng được nới rộng. Từ chấn thương từng được sử dụng cho những người trở về từ Việt Nam, những người đã trải qua nỗi kinh hoàng đến độ bị tê liệt các chức năng, không thể cử động. Hiện tại, vẫn từ chấn thương ấy, có thể được sử dụng để mô tả bất kỳ thứ cảm giác đau đớn sâu sắc nào, thậm chí những cảm giác không quá mức đau đớn. Xu hướng nới lỏng khái niệm này khiến chúng ta không còn từ ngữ nào chính xác để mô tả một chấn thương thực thụ. Chúng ta ngày càng khó thoát để khỏi vòng lặp và phản hồi một cách kiên cường – vượt lên chấn thương.


Mỗi khi gặp một chuyên gia tâm lý có chuyên môn về chấn thương, tôi đều hỏi tại sao một số người dường như có khả năng kiểm soát các trải nghiệm của họ, trong khi vài người khác thì không. Các câu trả lời nhận được khá thống nhất. Tính cách cá nhân là một yếu tố quan trọng – đặc biệt là khuynh hướng hài hước và khả năng cười trên những nỗi đau, như người anh họ của tôi. Một yếu tố khác là có những người tốt xung quanh bạn khi chuyện xấu xảy ra, những người sẽ quan tâm đến bạn, nhưng không bi kịch hóa hoàn cảnh. Tin tốt là việc trưởng thành sẽ giúp ta dần dần thoát khỏi những nỗi đau. Quá trình trưởng thành giúp hình thành và phát triển những tính cách quan trọng để xử lý những sự kiện trong quá khứ. Nói đơn giản, sau cùng, hầu hết chúng ta sẽ đều vượt qua những điều tồi tệ đã xảy đến với mình. Đó cũng là ý của bác sĩ tâm thần người Sierra Leone khi ông ấy nói với tôi rằng “hầu hết những người ấy sẽ ổn thôi”. Và ông ta đã đúng.


Cách một người phản ứng với những chấn thương không chỉ nằm ở những yếu tố cá nhân hay gia đình. Điều kiện xã hội, không gian sống hay phông văn hóa,… cũng có ảnh hưởng đến mức độ phục hồi của bạn. Bạn có sống trong một xã hội biến nỗi đau thành vấn đề của tồn tại, một xã hội buộc bạn phải thốt lên “Tại sao lại là tôi?” Hay bạn sống trong một xã hội chấp nhận những biến cố vô thường của cuộc sống và chỉ thốt lên “Chết tiệt”? Tất cả những yếu tố này định hình cách mọi người phản ứng với những gì đã xảy ra với họ. Trong trường hợp của Boris Cyrulnik, việc kể về cái chết đã mang đến cho những đứa trẻ ông chăm sóc cảm giác tồi tệ về số phận hơn nhiều so với thực tế. Trong một thời gian dài, chăm sóc tâm lý đã được thực hiện theo một loại thuyết quyết định. Số phận của nạn nhân trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm. Cyrulnik lập luận rằng sự tổn thương về mặt cảm xúc của những đứa trẻ mà anh ấy chăm sóc có thể chuyển hóa thành một cảm xúc mạnh mẽ, và điều đó quan trọng đến khả năng tự trần thuật lại câu chuyện của chính chúng, mà không phải chịu sự định hình của bất kỳ ai khác.


Những gì Cyrulnik làm thể hiện tầm quan trọng của thứ mà các nhà nghiên cứu Dan McAdams và Kate McLean gọi là narrative identity (căn tính qua trần thuật). “Narrative identity" là sự nội tâm hóa và phát triển câu chuyện đời sống, tái tạo lại quá khứ và tưởng tượng về tương lai, để cung cấp cho câu chuyện ấy một mức độ thống nhất và mục đích nhất định”. Trần thuật nội tâm của chúng ta được kiến tạo nhờ những câu chuyện bố mẹ kể cho ta nghe lúc còn nhỏ, kết hợp với những trải nghiệm riêng và được định hình lại bằng một siêu trần thuật mà xã hội cung cấp cho ta. Đó là phần chìm dưới lớp vỏ ngoài của thế giới mà ta sống, cách chúng ta phản hồi lại với những cơ hội, thách thức, và cả những trì hoãn.


Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Kenneth và Mamie Clark thiết kế một nghiên cứu với cái tên “thử nghiệm búp bê” (doll test). Kết quả thử nghiệm được lặp lại một cách thống nhất và đều đặn. Những trẻ em da đen được mời đến để chọn một trong hai con búp bê – trắng và đen. Chúng đều chọn giống nhau- những con búp bê trắng, sau một loạt các câu hỏi. Chúng gán cho con búp bê trắng ấy những phẩm chất tốt đẹp và những đánh giá tiêu cực cho búp bê đen. Kenneth Clark nói với NPR: “Thử nghiệm búp bê là một nỗ lực của tôi và vợ, trong việc tìm hiểu về quá trình phát triển lòng tự trọng của trẻ em… để thấy màu da, quan điểm của chúng về chủng tộc của mình ảnh hưởng đến cách chúng đánh giá về bản thân và lòng tự trọng của chúng ra sao.”


Trong cùng khoảng thời gian thí nghiệm của gia đình Clark, bác sĩ tâm thần và nhà triết học chính trị Frantz Fanon đã viết trong cuốn sách Black Skin, White Masks (Da đen, mặt nạ trắng) về chính tác hại tương tự đối với tâm lý của những người dân thuộc địa, khiến họ bị miêu tả một cách tiêu cực theo nhiều cách, thông qua sách, phim, truyện tranh và tạp chí, tất cả đều được củng cố bởi thái độ xã hội. Diễn ngôn thống trị của thực dân, với sự khẳng định ưu thế của người da trắng và sự thấp kém của người da nâu, da đen, đã định hình (sai lệch) bản sắc của họ thông qua trần thuật, khiến họ tự ti và có xu hướng hạ thấp giá trị của chính mình, như cách đã bị những kẻ thống trị thuộc địa hạ thấp giá trị.


McAdams và McLean cho rằng một số yếu tố của narrative identity có thể nâng cao sức khỏe tâm thần và trạng thái hạnh phúc. Đứng đầu trong số đó là quyền tự quyết. Các nhà văn ý thức rất rõ về điều này. Chúng ta có thể duy trì những chuyện kể mà chúng ta đã thấm nhuần. Chúng ta cũng có thể sử dụng thẩm quyền của mình để thách thức chúng. Như Salman Rushdie đã từng nhận xét: “Một vài người không có quyền lực đối với câu chuyện chi phối cuộc đời họ - quyền tường thuật lại, suy nghĩ lại, giải cấu trúc nó, đùa giỡn về nó và thay đổi nó như thời gian vẫn thay đổi - thực sự bất lực, bởi vì họ không thể suy nghĩ về những ý tưởng mới.” Hay như nhà văn Đan Mạch Isak Dinesen đã nói, “Mọi nỗi buồn đều có thể chịu đựng được nếu bạn có khả năng đưa chúng vào một câu chuyện.”


Mười lăm năm trước khi đất nước xảy ra chiến tranh, cha tôi bị sát hại theo lệnh của nhà độc tài. Ông đã chịu xét xử và treo cổ như một kẻ phản bội. Nhưng tôi hiểu cha tôi, và tôi biết hoàn cảnh ông bị bắt, vì tôi ở trong nhà khi sự việc xảy ra. Tôi cũng biết nguyên nhân dẫn đến điều đó. Tôi mười một tuổi, cha tôi là người hùng của tôi. Phải thừa nhận rằng ở độ tuổi đó, tất cả các ông bố đều là anh hùng trong mắt con gái mình. Nhưng ông ấy cũng là một anh hùng đối với nhiều người khác – người ta bí mật nói với tôi như thế, vì chúng tôi có nhiều kẻ thù. Những kẻ thù ấy đã kiểm soát báo chí và tin tức truyền hình; họ bỏ tù các nhà báo và nhà văn. Họ kiểm soát đại tự sự (master narrative).


Nhiều năm sau, khi cuộc xung đột ở Sierra Leone đang trong giai đoạn đỉnh điểm, tôi làm phóng viên tin tức tại BBC. Một lần nữa, câu chuyện bị bóp méo: cuộc chiến không được mô tả chính xác như cuộc chiến giữa các bộ lạc, và các bản tin được phát sóng mà thiếu đi một bối cảnh lịch sử, chính trị cụ thể. Những gì khán giả phương Tây thấy là một sự hỗn loạn khó tả, dù ở Sierra Leone, một số người đã có thể dự đoán được chiến tranh từ nhiều năm trước, kể cả cha tôi, người trước khi qua đời đã viết một lá thư cho quốc gia cảnh báo rằng đất nước đang đi đến sự hủy diệt.


Khi viết cuốn sách đầu tiên, The Devil That Danced on the Water (Ác quỷ nhảy múa trên mặt nước), tôi chọn chính gia đình mình làm phương tiện cho câu chuyện sẽ vừa viết lại những diễn ngôn chính thống, đồng thời phát ngôn cho tiếng nói cá nhân – câu chuyện mà tôi đã tạo ra, cải biên và định hình ngay từ thời niên thiếu. Tôi nắm quyền kiểm soát câu chuyện của chính mình, sử dụng quyền tự quyết và cấp cho nó ý nghĩa.


Không ai trong chúng ta tránh được nỗi đau. Nhưng chúng ta có thể thay đổi cách chúng ta nhìn vào sự đau khổ của mình- không tuyệt vọng, cũng không lãng quên, nhưng đi xuyên ký ức, và giữ trong mắt một tương lai tốt đẹp. Với Morlai, đó là lòng dũng cảm của chàng trai trẻ đã mạo hiểm để ngăn chặn đội hành quyết giết chết người thầy yêu quý của mình—đó là điều tuyệt vời nhất trong câu chuyện của anh ta.


___________________

Comments


bottom of page